Từ tin đồn trên mạng, ngẫm chuyện thời tin nhiễu

5:03 AM |
Những ngày này, lại rộ lên thông tin chương trình Táo quân của VTV năm 2015 bị cấm diễn. Và sau đó ông Đỗ Thanh Hải, tổng đạo diễn Táo quân hàng năm đã qua báo chí, bác bỏ thông tin này. 
Ảnh minh họa
Còn nhớ trước đó cũng rộ lên những thông tin thất thiệt như tin có người mang rắn lục đuôi đỏ đi thả trong các khu dân cư gây tâm lý hoang mang, hay thậm chí câu chuyện trang mạng tung tin đồn siêu bão cấp 17, dân hoang mang.

Ấy là chưa kể hàng loạt tin đồn khác không xuất phát từ mạng internet, như tin đồn CSGT ép xe, người dân té chết, giết người mổ nội tạng, bắt cóc trẻ em..., hay tin đồn tiệm vàng bán vàng non tuổi, tin đồn cướp Ngân hàng Đông Á tại Phan Thiết

Một số tin đồn dạng này lại còn được sự tiếp tay của các người dùng facebook dẫn lại, không thèm kiểm chứng đúng sai.

Tác hại của những dạng tin đồn này, khỏi cần bàn tới, vì đây là những chuyện đã biết rồi, khổ lắm, nói mãi.

Chuyện cần bàn là thái độ, là ứng xử trước những thông tin này.

Trước tiên, chuyện cá nhân mỗi người, cần một sự tỉnh táo, đừng vội hùa theo khi chưa rõ đúng sai phải trái. Trong cuộc sống thời đại số, mỗi người đều có thể trở thành một người đưa tin, thì hơn bao giờ hết, cần tìm mọi cách kiểm chứng nguồn tin, hiểu đâu là nguồn tin đáng tin cậy… và thậm chí nếu nôn nóng đưa tin, cũng cần tinh thần trách nhiệm công dân bằng cách chua thêm dòng chữ: không chắc tin này chính xác.

Nhưng chuyện xác thực một thông tin đúng sai, luôn đòi hỏi sự tham gia tích cực và khẩn trương của báo chí. Không loại trừ việc xác nhận một tin nào đó chỉ là tin đồn cũng được xem là một dạng đưa tin, mà câu chuyện về tin đồn Táo quân 2015 nêu trên là một ví dụ.

Và sau đó, chính là việc vào cuộc của báo chí điều tra, trong khả năng cho phép của mình giúp người đọc nhìn rõ toàn cảnh, thực hư của những tin đồn này là gì… để dư luận đừng đoán mò, đừng tát nước theo mưa cũng như suy luận lung tung, phức tạp thêm tình hình.

Và hơn ai hết chính là sự ứng xử khéo léo, nhanh nhẹn của cơ quan chức năng, của những người trong cuộc. Cần phải nhanh chóng dập tan những tin đồn, mà nói như đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc về luật Tiếp cận thông tin là Người dân cần thông tin “sạch” như cần không khí.

Thông tin sạch, đúng là điều cần thiết… nhưng cũng cần thiết hơn là phải nhanh. Và dĩ nhiên nhanh không đồng nghĩa với hấp tấp, nóng vội.

Thoạt nghe, có phần mâu thuẫn bởi để kiểm chứng sự đúng sai của một thông tin thì có vẻ như một câu nói của dân gian thời nay phải là “muốn nhanh thì phải từ từ”.

Nhưng kỳ thực, nhanh ở đây, chính là thái độ vào cuộc rốt ráo của người có trách nhiệm, ví dụ xác nhận là đang có tin này, tin kia… nhưng cơ quan chức năng cho rằng, đây là những thông tin cần phải có bằng chứng xác thực…

Cùng với đó là công việc nhanh chóng vào cuộc tìm hiểu sự việc và cung cấp thông tin chính xác cho báo chí. Nhanh ở đây còn có nghĩa là tiếp cận báo chí để cung cấp thông tin chính thức thay vì phải chờ đợi báo chí tìm đến.

Đúng, sai của một sự việc, thời gian sẽ trả lời… nhưng việc cung cấp/ tiếp nhận càng sớm càng tốt những thông tin chính thức luôn là điều mà bất cứ ai cũng mong nhận được và nên làm.

Read more…

AI CAI TRỊ NƯỚC MỸ?

10:01 PM |
“Ai cai trị nước Mỹ?”
Trả lời câu hỏi “Ai cai trị nước Mỹ?”, có lẽ nhiều người sẽ nói: Chính phủ và Tổng thống Mỹ đang cai trị nước này.


Câu trả lời ấy không sai nhưng chưa đi vào bản chất vấn đề. Nếu tiếp tục tìm hiểu ta sẽ thấy Ai cai trị nước Mỹ là một vấn đề phức tạp, cho tới nay vẫn chưa có câu trả lời tương đối nhất trí mà tồn tại nhiều quan điểm khác nhau.

Một số quan điểm thông thường:

1. Quan điểm cho rằng mỗi quốc gia đều do một giai cấp nào đó thống trị, thí dụ các nước theo chủ nghĩa tư bản (CNTB) như Mỹ là do giai cấp tư sản thống trị, các nước XHCN do giai cấp công nhân thống trị.

Ở đây có hai vấn đề. Thứ nhất, khái niệm giai cấp thống trị (ruling class) quá rộng trong khi bộ phận quyết định đường lối chính sách quốc gia chỉ có thể là số ít. Trong một xã hội hiện đại, các quyết sách lớn đều rất phức tạp và cần giữ bí mật ; vì thế nhà nước không thể do số đông lãnh đạo. Chẳng hạn nói giai cấp công nhân lãnh đạo, thực ra là đảng của giai cấp đó, đúng hơn là Ban chấp hành trung ương, chính xác là một thiểu số (như Bộ Chính trị) lãnh đạo.

Thứ hai, trong xã hội hiện đại các giai cấp đều bị phân hóa rất rõ ràng. Tại các nước tư bản, tăng trưởng kinh tế dẫn tới xã hội CNTB phúc lợi, giai cấp công nhân không còn là giai cấp vô sản như thời của Mác nữa, mà một bộ phận đáng kể đã chuyển lên thành tầng lớp trung lưu, hữu sản. Giai cấp tư sản cũng chia làm tư sản công nghiệp và tư sản tài chính, có vai trò khác nhau và mâu thuẫn với nhau. Tầng lớp trung lưu có số người đông nhất; qua bầu cử dân chủ và qua các tổ chức xã hội công dân, họ có tiếng nói quyết định trong xã hội. Người Mỹ cho rằng ở nước họ tất cả mọi người đều là công dân, hoàn toàn bình đẳng về cơ hội nhưng có thể không bình đẳng về kết quả ; ai cũng có thể giàu hoặc nghèo tùy thuộc sự phấn đấu của mình. Căn cứ theo thu nhập, xã hội Mỹ chia làm hai tầng lớp giàu và nghèo, đều là thiểu số, và một tầng lớp trung lưu chiếm đa số (80% dân). Không có khái niệm giai cấp vô sản, vì thế ở Mỹ chưa hề có phong trào cách mạng XHCN. Hai đảng Cộng hòa và Dân chủ không đại diện giai cấp, chỉ là các nhóm lợi ích, lập ra để tranh nhau chức Tổng thống (TT). Hai đảng này tổ chức rất lỏng lẻo.

2. Quan điểm cho rằng chính quyền Mỹ là do tầng lớp nhà giàu nắm giữ.

Nước Mỹ có mức độ phân hóa giàu nghèo rất rõ rệt. Số liệu năm 2007 cho thấy 1% số gia đình (thuộc tầng lớp trên, upper class) sở hữu 34,6% tài sản tư nhân cả nước; 19% tiếp theo (gồm giới các nhà quản lý, chuyên gia, chủ doanh nghiệp nhỏ) nắm 50,5%.Nghĩa là 20% số dân sở hữu 85% tổng tài sản tư ; còn 80% số dân (là những người làm thuê) chỉ sở hữu có 15%. Hiện nay 46% nghị sĩ hai viện quốc hội Mỹ thuộc diện nhà giàu (hiểu là có tài sản trên 1 triệu USD; người giàu nhất là Darrel Issa, đảng Cộng hòa, có 451 triệu USD); nhưng chưa phải là giàu lắm. Nói tầng lớp giàu có nắm chính quyền cũng không chính xác, vì 1% số dân Mỹ là 3,5 triệu người, bằng một quốc gia nhỏ. Hơn nữa không ít tỷ phú Mỹ lại tránh xa quyền lực, như Bill Gates và Warren Buffett đều không tham gia chính đảng nào, họ cam kết góp gần hết tài sản cho công tác từ thiện và ủng hộ Tổng thống Obama tăng thuế đánh vào người giàu.

3. Quan điểm cho rằng bên cạnh chính phủ Mỹ còn có một chính phủ vô hình do các nhà tư bản tài chính đứng đầu thực sự nắm quyền lãnh đạo nhà nước.

Quan điểm này thấy rõ trong cuốn Chiến tranh tiền tệ. Sách trích dẫn nhiều tài liệu của phương Tây, đưa ra những tư liệu giật gân, không rõ độ tin cậy, như :

Từ thế kỷ XIX, nền tài chính toàn thế giới thuộc quyền kiểm soát của gia tộc Rothschild (người Do Thái) có tổng tài sản tích lũy hơn 50 nghìn tỷ USD (?), gấp 4 lần GDP nước Mỹ. Rothschild Family hiện có tài sản 500 tỷ USD, đứng đầu tập đoàn tài chính quốc tế và kiểm soát tất cả các chính quyền phương Tây thông qua hệ thống ngân hàng (?);

Cơ quan Dự trữ Liên bang FED, tức Ngân hàng Trung ương Mỹ, là một ngân hàng tư nhân! Chủ tịch FED đều là người Do Thái (gần đây là Greenspan, nay là Bernanke). FED chính là Tổng thống không nhìn thấy đang thống trị nước Mỹ, vì FED có quyền in và phát hành đồng dollar Mỹ, còn gọi đồng tiền của FED (Federal Reserve Note) ;

Chính phủ Mỹ không có cổ phần ở FED. Họ phải vay tiền của FED để chi tiêu với thế chấp là tiền thuế thu nhập (khoản thu tài chính lớn nhất trong nước) do dân Mỹ nộp vào tài khoản của FED. Hiện nay nước Mỹ nợ nước ngoài 2500 tỷ USD (chủ yếu là công trái Mỹ do Trung Quốc, Nhật nắm) nhưng lại nợ FED những 44 nghìn tỷ USD ;

Nhiều TT Mỹ từng kiên quyết chống lại việc các nhà băng châu Âu muốn lập ngân hàng trung ương Mỹ do tư nhân kiểm soát để nắm quyền phát hành tiền tệ. TT Jackson từng giải tán ngân hàng tư nhân, trên bia mộ của ông khắc mỗi một câu: Tôi đã giết ngân hàng. TT Lincoln từng phát hành đồng tiền riêng của chính phủ, gọi là Tiền Xanh (greenback) nhằm phá thế kìm kẹp của đồng tiền do ngân hàng tư nhân phát hành, vì thế ông bị ám sát chết. Nhưng rốt cuộc FED vẫn được lập vào năm 1913, cho dù nhiều TT Mỹ chống lại việc đó ;

Có một Câu lạc bộ tinh hoa thống trị thế giới với nòng cốt là Hội đồng Quan hệ quốc tế Mỹ, nhóm Bilderberg và Ủy ban Ba bên (Trilaterial Commission). Ở đây tinh hoa là các trùm tài chính quốc tế, họ muốn lập chính phủ thế giới và tiền tệ thế giới (?).

Hiện nay dân Mỹ đang lên án các nhà tư bản tài chính là kẻ gây ra khủng hoảng kinh tế. Có điều khó hiểu là G. Soros một trùm tài chính người Mỹ gốc Do Thái lại ủng hộ phong trào này và phản đối việc chính phủ giải cứu các ngân hàng. Soros cũng cam kết hiến tất cả tài sản của mình cho công tác từ thiện.


Thuyết Tinh hoa quyền lực

Trong quá trình nghiên cứu vấn đề cấu trúc quyền lực ở Mỹ, xoay quanh chủ đề nước này sau Thế chiến II có tồn tại quyền lực tập trung hay không, một số học giả tiến bộ Mỹ cho rằng nước Mỹ là do một thiểu số tinh hoa quyền lực gồm những trùm sò của 3 ngành kinh tế, quân sự, chính trị thống trị.

Chế độ phân quyền hai cấp liên bang và bang, nguyên tắc tam quyền phân lập, tập tục hai đảng thay nhau cầm quyền và cơ chế bầu cử dân chủ tạo cảm giác xã hội Mỹ là do dân làm chủ và không có vấn đề quyền lực tập trung ; chính phủ Mỹ là « của dân, do dân, vì dân ». Tỷ phú-nhà từ thiện David Rockefeller từng nói : Tôi tin rằng chính phủ Mỹ là đày tớ của nhân dân chứ không phải ông chủ của họ.

Sau thắng lợi tiêu diệt các thế lực độc tài phát xít trong Thế chiến II, nước Mỹ ở vào thời kỳ phồn vinh, phần lớn trí thức Mỹ tự hào cho rằng nước họ là đại diện của quốc gia tự do dân chủ; bất kỳ nhóm lợi ích nào cũng bị các nhóm khác cân bằng và kiềm chế; người dân qua lá phiếu bầu của mình thực hiện quyền làm chủ nhà nước, không tồn tại vấn đề quyền lực quá tập trung.

Quan điểm trên bị lung lay khi xuất hiện cuốn Cấu trúc quyền lực cộng đồng : Một nghiên cứu về các nhà quyết sách (Community Power Structure: A Study of Decision Makers, 1953) của Floyd Hunter và Tinh hoa quyền lực (The Power Elite, 1956) của C. Wright Mills. Hai tác giả giải thích cấu trúc quyền lực theo cách khác với phái chủ nghĩa đa nguyên (pluralism) và phái Mác xít. Đây là bước thăm dò của giới khoa học chính trị về cấu trúc và sự phân phối quyền lực ở Mỹ trên tầng nấc quốc gia, hình thành lĩnh vực nghiên cứu cấu trúc quyền lực trong ngành khoa học xã hội và chính trị.

Mills cho rằng cấu trúc quyền lực ở Mỹ đã có thay đổi bản chất: quyền lực nhà nước quan trọng nhất đã tập trung vào 3 lĩnh vực kinh tế, chính trị và quân sự; 3 lĩnh vực đó hòa quyện với nhau, những người nắm 3 loại quyền lực này là các trùm tập đoàn công ty, chính khách trùm sò và lãnh tụ quân sự. Họ cấu tạo nên tinh hoa quyền lực của nước Mỹ, có lợi ích nhất trí, gắn kết nhau cùng hoạch định các quyết sách trên phạm vi toàn quốc, là một « tập đoàn nhỏ » khống chế quyền lực tập trung.

Mills vạch trần sự thật: phía sau sự phồn vinh, chế độ dân chủ mà người Mỹ tự hào đang bị đe dọa nghiêm trọng ; trong thời gian chiến tranh lạnh, quyền lực của đông đảo nhân dân Mỹ đang bị mất dần. Các giám đốc điều hành (CEO) đại công ty đến nhậm chức trong chính phủ Mỹ (như sau này McNamara Chủ tịch công ty Ford Motor làm Bộ trưởng Quốc phòng), tướng lĩnh cấp cao trong quân đội chuyển sang lãnh đạo đại công ty; quyền lực đang tập trung vào tay các nhà lãnh đạo quân đội, công ty và chính khách, tức nhóm tinh hoa thống trị quốc gia. Hơn thế nữa, địa vị của giới lãnh đạo quân đội và đại công ty đang lên cao, địa vị của các nhà chính trị thì đang hạ thấp. Mills và Hunter cho rằng quyền lực thoạt tiên bén rễ trong các tổ chức chứ không phải trong các cá nhân, các hội đoàn, nhóm lợi ích và đảng phái như nhiều nhà chính trị dòng chính quan niệm, cũng không phải là các giai cấp như các nhà Mác xít nghĩ.

Mills đồng ý với 3 tiêu chuẩn phân chia các tầng lớp xã hội do Max Weber đề xuất: tiền vốn (tư bản), quyền lực và danh vọng (3 thứ này có thể chuyển hóa lẫn nhau). Ông vạch ra sai lầm của Thuyết cân bằng phổ biến trong nhận thức của người Mỹ. Cơ chế tam quyền phân lập nhằm ngăn chặn sự tập trung quyền lực, nhưng trong thực tế cơ chế đó bị thách thức. Dân chúng chỉ chú ý tới tầng lớp trung lưu mà mơ hồ về cấu trúc quyền lực tổng thể, nhất là tầng lớp trên và tầng lớp dưới. Tầng lớp trên ngày càng nhất thể hóa và đã xuất hiện tinh hoa quyền lực. Ông cho rằng CNTB Mỹ là CNTB quân sự; mối quan hệ quan trọng nhất giữa đại công ty với nhà nước thì xây dựng trên sự nhất trí về nhu cầu của quân đội và công ty. Sự nhất trí đó tăng cường sức mạnh của mỗi bên và làm suy yếu vai trò của các chính khách.

Giới truyền thông đại chúng Mỹ giúp các nhân vật tinh hoa quyền lực có được vinh quang mà tầng lớp trên ở bất cứ nước nào cũng chưa từng được hưởng. Truyền thông đại chúng và cơ chế giáo dục ở Mỹ đã che giấu sự vô đạo đức của tầng lớp trên và việc tầng lớp này tước đoạt quyền lợi của dân chúng.

Wright Mills là nhà phê phán xã hội có ảnh hưởng nhất ở Mỹ thập niên 1950. Thuyết Nước Mỹ tồn tại tinh hoa quyền lực cấu tạo bởi nhóm 3 đại gia (The Big Three, gồm các trùm chính quyền, quân đội, công ty độc quyền) của ông được gọi là chủ nghĩa Mills (Millsian). Nó cùng với chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa đa nguyên tạo ra cục diện bộ ba ở Mỹ. Quan điểm tiến bộ của Mills khiến ông bị một số học giả cho là thân Fidel Castro (ông có sang thăm Cuba mấy lần), thân cộng sản ; ông từng có ý định bỏ nước Mỹ sang sống ở Anh. Trong hơn 50 năm qua sách Tinh hoa quyền lực được tái bản nhiều lần. Tuy tình hình xã hội Mỹ ngày nay khác ngày ấy, nhưng quan điểm của Mills hiện vẫn có giá trị trong việc giải thích cấu trúc quyền lực ở Mỹ.

Những người theo thuyết cân bằng và theo chủ nghĩa đa nguyên công kích thuyết tinh hoa quyền lực; họ cho rằng trải qua cuộc cách mạng quản lý, CNTB gia tộc đã suy yếu, xã hội phương Tây không còn tồn tại tinh hoa đơn nhất và tập trung (tức tinh hoa quyền lực) nữa, mà chỉ còn một quần thể tinh hoa đã phân tán về quyền lực và cạnh tranh lẫn nhau.

Phái Mác xít giải thích cấu trúc quyền lực từ điểm xuất phát là sự đối kháng giai cấp và nhấn mạnh đấu tranh giai cấp xảy ra ở mọi nơi mọi lúc; họ cho rằng việc Mills bỏ khái niệm giai cấp thống trị, đưa ra khái niệm tinh hoa quyền lực, nhấn mạnh mối quan hệ giữa tinh hoa quyền lực với thể chế là cách làm không triệt để, dễ đi tới coi nhẹ tác dụng chủ đạo quá trình quyết sách của của giới tinh hoa thương mại, hạ thấp kinh tế xuống ngang hàng với chính trị và quân sự.

Quan điểm Tinh hoa quyền lực của W. Mills có ảnh hưởng rất lớn tới phong trào phản chiến và phong trào sinh viên ở Mỹ hồi thập niên 60. Đáng tiếc ông mất sớm (1916-1962) nên không thể tiếp tục cống hiến trên lĩnh vực này.

Phái theo chủ nghĩa phê phán (criticism) ca ngợi cách đặt vấn đề có tính phê phán của Mills ; tuy không hoàn toàn đồng ý với ông nhưng họ viết khá nhiều sách phát triển học thuyết của ông.

Trong số các tác phẩm ấy, đáng kể nhất là cuốn Ai thống trị nước Mỹ? (Who Rules America?) của G.W.Domhoff xuất bản năm 1967, được xếp thứ 12 trong số 50 bestseller về xã hội học thời gian 1950-1995. Sách này sau đó lại bổ sung và tái bản, đến năm 2010 đã xuất bản lần thứ 6, có những thông tin về Barack Obama.

Tiếp đó là cuốn Ai đang thống trị nước Mỹ? (Who’s Running America?) của Thomas R. Dye, xuất bản năm 1976, mỗi đợt bầu Tổng thống mới lại tái bản có bổ sung, đến nay đã có bản thứ 7 (The Bush Restoration). Bản nào cũng có một chủ đề: nước Mỹ vẫn bị thống trị bởi các nhóm tinh hoa quyền lực chiếm địa vị cao trong các thiết chế quan trọng.

Nhiều năm qua, giới trí thức Mỹ không ngừng tranh luận vấn đề Ai thống trị nước Mỹ. Trên mạng có riêng một website Who Rules America.net dành cho việc này. Hai phái chủ nghĩa đa nguyên và chủ nghĩa tinh hoa (Elitism) hăng hái tranh cãi với nhau.

Dư luận dường như nhất trí ở một điểm: nước Mỹ không do số đông (masses) lãnh đạo. Vấn đề là nước này có tồn tại tinh hoa quyền lực hay không ?

Cuốn Ai thống trị nước Mỹ: Sự biến đổi quyền lực, chính trị và xã hội (Who Rules America? Power, Politics and Social Change) của G.W.Domhoff bản in năm 2006 được coi là tác phẩm kinh điển nghiên cứu về tinh hoa quyền lực nước Mỹ. Domhoff khẳng định nước Mỹ bị thống trị bởi tầng lớp tinh hoa đang sở hữu và điều hành những tài sản có thu nhập lớn như ngân hàng và tập đoàn công ty, họ làm chủ cấu trúc quyền lực chính trị và kinh tế của nước Mỹ. Họ là chủ sở hữu hoặc CEO các công ty làm ra khối lượng của cải khổng lồ, là những cố vấn pháp lý của công ty… gọi chung là cộng đồng doanh nhân.

Khái niệm tinh hoa quyền lực do Mills đề ra đã làm rung chuyển giới trí thức Mỹ và gây ra cuộc tranh luận suốt hơn nửa thế kỷ qua. Cuộc tranh cãi đó động chạm tới nhận thức về các khái niệm tinh hoa, dân chủ, quyền lực, nhận định về cấu trúc quyền lực và xu thế phát triển của nó trong xã hội Mỹ, và dẫn tới các vấn đề thuộc khái niệm rộng hơn – lĩnh vực xã hội học tinh hoa (Sociology of Elites). Các nhà chính trị học nhiều nước, kể cả Trung Quốc, đang vận dụng quan điểm của Mills để xem xét vấn đề tinh hoa quyền lực tại nước mình.

Vai trò của các Tổng Thống Mỹ

Dĩ nhiên TT Mỹ thuộc vào tầng lớp tinh hoa quyền lực, tuy rằng không ít TT xuất thân nghèo hoặc bình thường. Vì do dân trực tiếp bầu ra, nói chung các TT đều đại diện cho lợi ích của đa số nhân dân. Nhưng do chịu rất nhiều sức ép từ các lực lượng trong xã hội cho nên họ phải thỏa hiệp, không phải bao giờ cũng hoàn toàn vì lợi ích của đa số dân.

Có một sự thật không thể phủ nhận là nước Mỹ tồn tại một số nhóm lợi ích cực đoan có những hoạt động vi phạm truyền thống dân chủ của nước này và gây khó khăn cho các TT.

Đáng kể nhất là Tổ hợp công nghiệp-quân sự (Military-industrial complex). Trong diễn văn từ nhiệm đọc ngày 17/1/ 1961, TT Eisenhower từng cảnh báo nhân dân Mỹ: Trong khi thừa nhận ngành công nghiệp và quân sự có cống hiến cho việc đảm bảo an ninh của nước Mỹ, chúng ta không thể không thấy là sự cộng tác giữa chính phủ liên bang với giới quân sự và giới lãnh đạo ngành công nghiệp tuy cần thiết nhưng lại có thể dẫn đến tệ nạn lạm dụng quyền lực. Ông khuyến cáo nhân dân Mỹ cần chú ý giám sát tổ hợp công nghiệp-quân sự.

Oliver Stone đạo diễn bộ phim JFK (phim về vụ ám sát TT J.Kennedy) từng nói Kennedy bị ám sát vì ông muốn chấm dứt cuộc chiến tranh Việt Nam nhưng tập đoàn công nghiệp-quân sự không đồng ý. Phát biểu của Stone làm rung chuyển dư luận, vì các báo cáo điều tra vụ ám sát Kennedy đều không nói gì tới vấn đề này. Năm 1968 Thượng nghị sĩ Robert Kennedy bị ám sát chết trong khi tranh cử TT cũng chỉ vì muốn kế tục nguyện vọng kết thúc chiến tranh Việt Nam. Về sau con trai duy nhất của J. Kennedy ở tuổi 40 cũng chết trong một tai nạn máy bay riêng bí ẩn, đúng như lời bà góa Jacqueline nói: Bọn chúng muốn tiêu diệt gia tộc Kennedy.

Thứ hai là Tập đoàn chính trị Do Thái. Cộng đồng người Mỹ gốc Do Thái có gần 7 triệu người, chỉ chiếm 2,5% số dân nhưng có ảnh hưởng lớn tới chính trường Mỹ; chủ yếu vì họ hăng hái nhất trong việc tham gia bầu cử, hơn nữa họ giàu có và khống chế bộ máy truyền thông nước này. Tuy chưa có chính trị gia gốc Do Thái nào làm TT Mỹ nhưng họ thường sử dụng chiêu vận động hành lang nghị trường để gây ảnh hưởng tới chính sách đối ngoại, khiến chính phủ Mỹ tỏ ra thiếu công bằng trên vấn đề Trung Đông. Chẳng hạnMỹ đã viện trợ không hoàn lại cho quốc gia Do Thái Israel tổng sộng khoảng 1700 tỷ USD nhằm giúp nước này có sức mạnh kinh tế và quân sự đủ để trụ được trong vòng vây của thế giới A Rập. Thái độ thiên vị ấy đã làm người A Rập căm phẫn, hậu quả khiến nước Mỹ phải trả giá cho cuộc chiến dai dẳng chống khủng bố.

Tất cả các đời TT Mỹ đều phải đương đầu với những nhóm lợi ích nói trên. Nhiều người đã dũng cảm đấu tranh chống lại. Sáu trong số 44 TT Mỹ từng bị ám sát, trong đó 4 người chết, có lẽ vì họ đi ngược lại ý đồ của các nhóm ấy.

Một lực lượng nữa thường xuyên gây sức ép với chính quyền Mỹ là quần chúng nhân dân. Ngoài việc thông qua các đại diện của mình trong quốc hội để tác động lên chính phủ, phần lớn dân Mỹ, nhất là tầng lớp trung lưu, đều ở trong các tổ chức của công dân, như các tổ chức phi lợi nhuận (Non-profit Organization, NPO, thí dụ công đoàn, các hội ngành nghề, quỹ từ thiện, đoàn luật sư, think-tank v.v..). Các tổ chức này là nơi liên kết dân chúng để thống nhất quan điểm, bảo vệ lợi ích tập thể của họ, thực hiện xã hội hòa hợp và giám sát chính quyền. Các tổ chức đó hình thành xã hội công dân (XHCD), một lĩnh vực tồn tại độc lập với nhà nước, thực sự là đối trọng đáng vì nể của chính phủ.

Lực lượng XHCD Mỹ rất hùng hậu. Năm 2010 nước Mỹ có hơn 1,5 triệu NPO có tính quốc tế (U.S.-based International Nonprofit Organization), giả thử Ban quản trị mỗi NPO có 10 người, thì ít nhất có 15 triệu dân quản lý NPO, nếu kể cả thành viên chính thức và không chính thức thì số người tham gia NPO có cả cả trăm triệu. Tổng tài sản của các tổ chức này lên tới 3000 tỷ USD, như Quỹ Bill & Melinda Gates có tài sản 33,5 tỷ USD, tương đương GDP quốc gia xếp thứ 82 về thu nhập, trên cả 111 quốc gia khác.

NPO tận dụng các phương tiện truyền thông, mạng Internet, nhất là các mạng xã hội, tạo ra sức ép dư luận rất lớn mà chính quyền không thể bỏ qua. NPO không chỉ nói lên ý kiến nguyện vọng của dân đối với nhà nước mà còn tổ chức các phong trào đấu tranh đòi chính quyền sửa các chính sách dân không tán thành. Thí dụ những cuộc mít tinh biểu tình rầm rộ có mấy trăm nghìn người tham gia phản đối sự phân biệt chủng tộc và chống chiến tranh Việt Nam hồi thập niên 60 đã làm chính phủ Mỹ phải thay đổi chính sách liên quan. Một số cuộc biểu tình kéo dài ngày này sang ngày khác làm chính quyền đau đầu. Những cuộc đấu tranh ấy có thể dẫn tới khủng hoảng chính trị nếu chính phủ không khéo léo giải quyết các yêu cầu của dân chúng.

Nước Mỹ gồm rất nhiều sắc tộc từ khắp thế giới đến định cư chứ không có sự thuần nhất chủng tộc (như Đức, Nhật thời xưa), quan niệm giá trị, tư tưởng chính trị của dân chúng rất đa dạng phức tạp, lại thêm giá trị cá nhân và vai trò làm chủ của công dân được đề cao thái quá, vì thế công việc của chính quyền gặp nhiều khó khăn. Thí dụ thị trấn Ojai ở bang California chỉ có 8000 dân (phần lớn là người hưu trí), trữ lượng dầu mỏ dưới lòng đất rất lớn nhưng dân ở đây đồng tâm nhất trí không cho khai thác dầu, chính phủ và các công ty cũng đành chịu.

Nhìn chung các TT Mỹ luôn ở vào thế trên đe dưới búa, phải vắt óc nghĩ cách thỏa hiệp điều hòa lợi ích của những phía gây sức ép lên họ. Các TT đều đau đầu vì phải đối phó với Quốc hội, đảng đối lập, dân chúng và các nhóm lợi ích. Chưa một TT nào giàu lên nhờ chức vụ của mình, ngược lại chỉ nghèo đi và tổn thọ.

***
Nước Mỹ hiện nay (2012) đang ở vào thời kỳ khủng hoảng và suy thoái kinh tế. Đây là hậu quả tất nhiên của việc chuyển đổi mô hình kinh tế và toàn cầu hóa kinh tế. Thí dụ việc chuyển những ngành công nghiệp dùng nhiều nhân lực sang các nước nghèo, việc ưu tiên phát triển công nghệ cao và dịch vụ tài chính (là những ngành dùng ít nhân công nhưng thu lợi cao) đã gây ra nạn thất nghiệp tại nước Mỹ. Đây cũng là hậu quả của lối tiêu dùng kiểu Mỹ: làm ít tiêu nhiều, vay tiền của tương lai để chi tiêu hôm nay, rốt cuộc ngập trong nợ nần. Vì toàn cầu hóa kinh tế là trào lưu không thể ngăn cản cho nên khó tránh khỏi khủng hoảng kinh tế. Hơn nữa khủng hoảng diễn ra trên phạm vi toàn cầu nên từng quốc gia rất khó vượt qua nếu không có sự phối hợp toàn cầu.

Cũng như ở nhiều nước phương Tây khác, chính phủ Mỹ tỏ ra bất lực trong việc đưa đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng. Dân chúng (chủ yếu là tầng lớp trung lưu) nhận thấy phải tự cứu mình, họ tổ chức Phong trào Chiếm Phố Wall, nêu khẩu hiệu “Chúng tôi là 99%” chống lại tình trạng 1% số dân nắm giữ 40% tài sản và chiếm hơn 20% thu nhập, chống lại việc nhà nước tài trợ cứu các ngân hàng. TT Obama và một số nhà giàu Mỹ cũng ủng hộ phong trào này.

Hiện nay giới tinh hoa tài chính Mỹ đang là đối tượng bị phong trào nói trên lên án, bởi họ chỉ tìm cách hợp pháp tăng thu nhập của mình trong khi thu nhập của dân bị giảm do khủng hoảng kinh tế.

Mối quan hệ tay ba chính quyền-dân chúng-nhà tư bản ngày một căng thẳng. 69% dân Mỹ không tin vào hệ thống ngân hàng và tài chính, 65% không tin Chính phủ, Quốc hội, và các đại công ty. Phong trào Chiếm Phố Wall đang lan rộng. Nền dân chủ Mỹ bị lung lay. Khủng hoảng kinh tế có khả năng trở thành khủng hoảng chính trị.

Đại suy thoái kinh tế thế giới thập niên 30 thế kỷ XX dẫn đến sự xuất hiện những lãnh tụ tài giỏi như TT F. Roosevelt ở Mỹ, Churchill ở Anh hoặc các nhà độc tài như Mussolini ở Ý, Hitler ở Đức (do các cử tri Đức bầu lên). Cuộc tranh cử TT Mỹ vẫn đang tiếp diễn nhưng chưa đến hồi quyết liệt. Lập trường ủng hộ dân của Obama có thể làm ông gặp khó trong cuộc bầu cử năm 2012; nhưng hiện nay xem ra chưa thấy ứng viên TT nào sáng giá hơn, có khả năng cứu nền kinh tế Mỹ. Người ta chỉ có thể chờ xem.

Nguyễn Hải Hoành

[1] Chiến tranh tiền tệ, bản dịch tiếng Việt, Nxb Trẻ, 6/2008
[3] Eisenhower warns of military-industrial complex
[4] Người Do Thái ở Mỹ – lực lượng quyết định chính sách của Mỹ tại Trung Đông
[5] Các TT Lincoln, Garfield, McKinley và Kennedy bị ám sát chết; hai TT Truman và Reagan bị ám sát nhưng không chết.
[6] Nước Mỹ áp dụng chế độ lương thấp cho viên chức nhà nước (khác với Singapore); lương TT không cao hơn giáo sư ĐH. Có 6 TT Mỹ về hưu trong nghèo túng, mắc nợ không trả được. 4 TT chết khi đang tại chức (Harrison, Taylor, Harding, F.Roosevelt)
Read more…

Vì sao con người dễ tin vào những điều bịa đặt?

2:32 AM |
Tiến sĩ Jeremy Dean, một nhà nghiên cứu về tội phạm học đã dựa trên những phân tích của giáo sư Stephan Lewandowsky để giải tích một hiện tượng xã hội" cái gì làm con người dễ tin vào điều bịa đặt và cách chống lại nó.

Một số người tin đủ thứ kỳ quặc, thực ra có một lý do tâm lý rất xác đáng khiến tôi không lặp lại những thứ đó ở đây.

Tôi chỉ muốn nói rằng một số người tin những điều rất kỳ lạ. Và một trong những lý do khiến mọi người chấp nhận những ý tưởng kỳ quặc là vì nó được lặp lại, ngay cả khi chỉ để phản bác chúng.

Vậy tất cả những thông tin sai đến từ đâu, tại sao mọi người tin nó và làm thế nào những người biết thông tin đúng có thể thay đổi niềm tin của họ?

Thông tin sai đến từ:

1. Những tin đồn và câu chuyện bịa đặt

Con người ưa thích những câu chuyện giật gân, gây xúc động mạnh. Họ thích truyền bá những câu chuyện làm người nghe rất hạnh phúc, ghê tởm, phẫn nộ hoặc sợ hãi: bất kỳ điều gì gây ra phản ứng cảm xúc mạnh mẽ.

Những câu chuyện trung tính, có thể có nhiều khả năng là sự thật, nhưng nhàm chán hơn, và do đó nhận được ít sự chú ý.

Kỳ lạ hơn, nghiên cứu cho thấy mọi người tin vào những điều rõ ràng là bịa đặt mà họ từng đọc trong tiểu thuyết. Điều này đúng ngay cả khi:

· Chúng rõ ràng là tiểu thuyết bịa đặt,
· và khi họ được cho biết rằng cuốn tiểu thuyết bịa đặt đó chứa những thông tin sai,
· và khi sự thật được biết tương đối rộng rãi.

Điều này có thể một phần vì sự phòng vệ của mọi người có xu hướng trở nên thấp hơn khi họ tiêu thụ các sản phẩm giải trí phổ biến.

2. Những nhà chính trị

Hầu hết chúng ta đều biết rằng các chính trị gia sẽ nói bất kỳ điều gì để được bầu, nhưng chúng ta có thể phân biệt được giữa sự thật và những lời nói dối mà họ nói không?

Các nghiên cứu phát hiện thấy, trong thực tế, mọi người rất khó để biết được sự khác nhau. Có vẻ như việc biết các chính trị gia nói dối không ngăn được mọi người tin vào những lời dối trá đó.

3. Giới truyền thông

Lý do thông thường của thông tin sai ở các phương tiện truyền thông là sự đơn giản hóa quá mức và sự cần thiết tạo ra sự cân bằng. Nhu cầu về sự cân bằng là một điều thú vị vì bản thân các vấn đề không phải lúc nào cũng “cân bằng”.

4. Mạng Internet

Có rất nhiều điều tốt đẹp để nói về mạng Internet, nhưng nó vẫn là nguồn của rất nhiều thông tin sai. Dưới đây là một ví dụ đáng sợ:

Một cuộc khảo sát 50 trang web đầu tiên xuất hiện khi tìm kiếm cụm từ “chế độ ăn giảm cân” cho thấy chỉ có 3 trong số đó cho bạn những lời khuyên đúng đắn.

Thêm nữa, con người có xu hướng tìm kiếm thông tin nhằm xác nhận, củng cố những quan điểm họ đang có. Và điều này trở nên dễ dàng hơn nhiều trong hiện tại khi mạng Internet mang đến đủ loại quan điểm. Cho dù mọi người tin vào điều gì đi nữa, họ luôn có thể tìm được những người khác cùng quan điểm để hỗ trợ họ.

Tại sao con người tin những thông tin sai?

Rõ ràng là những điều dối trá và thông tin sai trôi nổi ở khắp mọi nơi. Nhưng nếu tất cả chúng ta đều biết rằng các chính trị gia, giới truyền thông và mạng Internet đôi lúc nói dối, thì làm thế nào một số người vẫn tin chúng?

Vấn đề là cách thức con người tin (hoặc không tin) điều gì đó về cơ bản là rất kỳ quặc. Rất ít người buồn kiểm tra lại những sự kiện, cơ sở lập luận đó; hầu hết mọi người sử dụng một số suy nghĩ tắt:

1. Cảm thấy nó đúng? Thông tin mới có phù hợp với những điều tôi đã tin không? Ví dụ, một người theo Đảng Cộng Hoà nhiều khả năng sẽ chấp nhận những lời nói dối về nơi sinh của tổng thống Obama vì lời nói dối đó tiện lợi cho họ.

2. Nó có lý không? Những điều dễ hiểu thì dễ tin hơn. Tâm trí con người cự tuyệt những thứ phức tạp, tự bảo vệ nó bằng cách nói rằng : ôi dào, đấy có thể là một thứ bịa đặt.

3. Nguồn có đáng tin không? Những người có vẻ có uy quyền, như những người ở vị trí quyền lực, có nhiều khả năng được tin tưởng hơn. Ví dụ, các bác sĩ có thể gây ra rất nhiều thiệt hại bằng cách đưa ra lời khuyên tồi một cách công khai vì mọi người có xu hướng tin họ.

4. Những ai khác cũng tin nó? Con người thích đi theo “bầy đàn”. Không may là con người cũng có thành kiến rằng hầu hết mọi người đều nhất trí với họ, ngay cả nếu trong thực tế, mọi người không như vậy.

Nhưng những điều này vẫn chưa giải thích được tại sao mọi người tiếp tục tin vào những thứ kỳ quặc, ngay cả sau khi nó được chứng minh với họ là sai lầm. Ngay cả khi thông tin sai hoàn toàn được rút lại và những người liên quan thừa nhận đó là những lời dối trá, thì vẫn rất khó để giết chết thông tin sai.

Một cách giải thích là dựa trên cách hoạt động của trí nhớ: chúng ta có xu hướng nhớ lại ý chính của một điều gì đó dễ dàng hơn nhiều so với nhớ lại những chi tiết chính xác. Thường thì điều này là thuận tiện vì nó có nghĩa là chúng ta có thể học những điều cụ thể, ví dụ như nấu thịt bò làm nó dễ tiêu hoá hơn, và khái quát hóa nó thành sự thật là nấu nướng làm nhiều thức ăn ngon hơn.

Mặt hạn chế của điều này là mọi người dễ dàng nhớ lại ý chính của một số thông tin sai và quên rằng họ nghe thông tin đó từ một nguồn hoàn toàn không đáng tin.

8 cách chống lại thông tin sai

Vậy, có thể tiêu diệt những thông tin sai không? Lewandowsky và các cộng sự nói có, nhưng rất khó và bạn sẽ cần sự giúp đỡ từ 8 kỹ thuật tâm lý sau:

1. Nhiều hơn sự thật

Thay đổi tâm trí mọi người không chỉ là nói với họ rằng họ đã sai; giá mà chỉ dễ dàng như vậy. Để bị thuyết phục, mọi người cần nghe một sự giải thích thay thế tại sao nó lại như vậy, chứ không chỉ đơn giản thông tin sai là sai. Lý tưởng hơn, bạn cũng nên giải thích động cơ cho những lời nói dối.

2. Ngắn gọn và êm dịu

Sự giải thích thay thế không nên quá phức tạp. Nó càng ngắn gọn thì càng hiệu quả. Đưa ra quá nhiều lời giải thích và mọi người sẽ bịt tai. Chỉ cần một vài sự thật nổi bật.

3. Đừng lặp lại những điều hoang đường

Tránh lặp lại điều hoang đường. Nhớ rằng mọi người thấy dễ dàng nhất khi nhớ lại ý chính của một điều gì đó. Nếu bạn liên tục lặp lại điều hoang đường, bạn đang tự làm hại mình.

4. Nói về thông tin sai

Bạn sẽ phải lặp lại điều hoang đường một lần, để mọi người biết bạn đang nói về cái gì. Vì vậy, nói cho họ biết trước rằng điều bạn sắp nói là thông tin sai.

5. Sự thật, sự thật, sự thật

Liên tục lặp lại sự thật. Sức mạnh của việc lặp đi lặp lại để ảnh hưởng đến mọi người là rõ ràng.

6. Tấn công nguồn của thông tin

Nguồn của thông tin sai là gì? Nó có đáng tin không? Chắc chắn là không! Khuyến khích mọi người trở nên đa nghi một chút có thể có lợi.

Một trong những thách thức ở đây là mọi người có xu hướng tin những người nói điều phù hợp với thế giới quan của họ. Do đó bạn cần…

7. Khẳng định thế giới quan

Bạn cần giữ người nghe bên phía bạn, ngay cả khi bạn nói với họ điều họ không muốn nghe. Bạn có thể làm điều này bằng cách đặt vấn đề theo cách nhìn của họ. Ví dụ bạn có thể nói với một người đang nghi ngờ sự thật về nơi sinh của tổng thống Obama: “Này, cả hai chúng ta đều chẳng ai thích Obama và những chính sách của ông ta cả. Nhưng sự thật là ông ta sinh ra ở Hawaii.”

Nói với mọi người những điều họ không muốn nghe là một hành động cân bằng. Bạn phải đi đủ xa để nói được điều bạn muốn nói, nhưng không quá xa khiến người nghe thấy phản cảm.

8. Khẳng định bản sắc

Một cách khác để tránh sự kháng cự tự nhiên của mọi người trước những sự thật họ thấy khó chịu là khẳng định bản sắc của họ. Bạn có thể gián tiếp làm mọi người nghĩ về những điều quan trọng đối với họ như gia đình, bạn bè và những lý tưởng.

Nghiên cứu cho thấy điều này giúp mọi người xử lý với sự không nhất quán giữa niềm tin của họ và những thông tin mới xung đột với nó.

Bùn thì dễ dính

Dĩ nhiên tất cả các kỹ thuật này đều đã được sử dụng bởi những người muốn lái và ảnh hưởng quan điểm công chúng. Đó cũng là lý do tại sao cần biết về chúng. Như Lewandowsky và các cộng sự kết luận:

Kỹ thuật sửa chữa thông tin sai hoàn toàn không khác gì kỹ thuật của những người muốn lan truyền thông tin sai thay thế các quan điểm đúng đang có của người nghe. Do đó, điều quan trọng là công chúng có một hiểu biết cơ bản về tác động của thông tin sai... Khi công chúng nhận thức rộng rãi rằng có nhiều người thường “ném bùn” vì họ biết rằng nó sẽ “dính”, họ có được nhận thức đúng đắn hơn.

Nhận xét:

Bình thường ai cũng muốn tin rằng họ luôn suy nghĩ tỉnh táo, có thể phân biệt sự thật với dối trá và chỉ tin vào những gì đáng tin. Nhưng bài viết này cho thấy sự thật đáng sợ là con người có thể tin vào những điều hoàn toàn trái với lẽ thường, chỉ vì một số kỹ thuật tâm lý, và một khi họ đã tin vào điều gì, rất khó để thay đổi nó. Đây là điều mà những kẻ thái nhân cách, bậc thầy trong việc quan sát tâm lý con người, đã biết và sử dụng từ lâu. Không phải vô tình mà hầu hết các phương tiện truyền thông phương tây đều nằm dưới sự kiểm soát của một số rất ít công ty. Và khi những cỗ máy tuyền truyền đó (bởi vì chúng đúng là như vậy) lặp đi lặp lại những lời dối trá của các chính quyền phương tây, ví dụ như chuyện những kẻ cướp máy bay người Ả rập trong vụ tấn công 11 tháng 9, hay vũ khí hủy diệt hàng loạt của Saddam Hussein, hay những lời dối trá về Putin và nước Nga hiện nay, hầu hết mọi người sẽ tin đó là sự thật.

Như đoạn kết của bài viết này nói, cách duy nhất để chống lại tình trạng đó là luôn nhớ rằng mọi người có thể "ném bùn", đặc biệt là những kẻ thái nhân cách thì luôn luôn như vậy, và kiểm tra mọi sự kiện và cơ sở lập luận mà bạn được nghe.

Theo molang0205.blogspot.com
Read more…

Để đường dây nóng không bị... lạnh

10:11 PM |


Theo Thời sự từ Báo Tuoitre.vn: Không ít lời than phiền liên quan đến việc sử dụng đường dây nóng trong thời gian qua, đặc biệt là đối với đường dây nóng của các cơ quan quản lý nhà nước.

Người này bực mình vì bên kia đầu dây chỉ nghe tiếng đổ chuông mà không ai nghe máy. Người kia mệt mỏi vì cứ được chỉ dẫn lòng vòng để rồi cuối cùng chỉ nghe một lời xin lỗi.

Sự việc vẫn để ngỏ chẳng ai giải quyết. Có người thậm chí nổi nóng vì phải trả tiền cước cuộc gọi chỉ để tiếp nhận những thông tin hướng dẫn được lập trình sẵn về thể thức giao tiếp chung chung và cuộc gọi kết thúc bằng tiếng píp píp vô tri.

Ở các nước, đường dây nóng dùng để chỉ việc liên lạc mà người ta sử dụng trong các trường hợp khẩn cấp.

Đặc điểm của việc liên lạc này là luôn thông suốt bất kể ban ngày hay ban đêm, ngày thường hay ngày nghỉ. Lúc nào cũng có người trực, sẵn sàng nhận cuộc gọi, ghi nhận thông tin chuyển đến, rồi xử lý ngay lập tức hoặc chuyển ngay đến các vị trí có chức năng xử lý, không chậm trễ.

Việc mở đường dây nóng thường xuất phát từ hai loại nhu cầu.

Thứ nhất, đó là nhu cầu quản lý của nhà chức trách đối với xã hội. Nhà chức trách luôn mong muốn thiết lập sự kiểm soát, giám sát rộng khắp cả về không gian và thời gian.

Đường dây nóng cho phép nhà chức trách dựa vào xã hội, cộng đồng thực hiện mục tiêu đó. Từ phản ảnh qua đường dây nóng, cơ quan chức năng biết được điều bất thường đang xảy ra ở một nơi nào đó, như một vụ cháy, vụ cướp hay bạo hành gia đình...

Nhờ đó, các biện pháp can thiệp, xử lý được triển khai kịp thời, giúp ngăn chặn, giảm thiểu thiệt hại.

Thứ hai, đó là nhu cầu giải tỏa nhanh chóng các bức xúc của người dân, khách hàng trước những vấn đề trong hệ thống cung ứng dịch vụ, tiện ích cho xã hội.

Trong trường hợp dịch vụ, tiện ích thuộc loại thiết yếu như cung ứng điện, nước, chăm sóc sức khỏe, thông tin liên lạc..., đường dây nóng có điều kiện phát huy tác dụng tích cực nhất.

Người sử dụng đường dây nóng trong những trường hợp này thường là người trực tiếp chịu sự tác động tiêu cực của những dịch vụ, tiện ích kém chất lượng: máy ATM hết tiền, điện, nước bị cắt đột ngột... Đường dây nóng cho phép khắc phục các sự cố cụ thể và ngăn chặn rủi ro lặp lại sự cố.

Chính hệ thống quản lý, cung ứng dịch vụ, tiện ích được hưởng lợi nhiều nhất từ đường dây nóng do mình lập ra. Chính những người đứng đầu các hệ thống này phải quan tâm nhiều nhất đến việc chăm sóc, hoàn thiện đường dây nóng để đường dây vận hành trơn tru.

Bởi vậy, thật ngạc nhiên khi nghe những lời giải thích về chất lượng của đường dây nóng, kiểu như: chỉ hoạt động vào những ngày thường và trong giờ hành chính, chỉ giữ vai trò đầu mối và khiếu nại cụ thể phải được thực hiện với cơ sở...

Để đường dây nóng không bị đối xử như vô chủ, gây lãng phí, cần có khung pháp lý với các quy định thật chặt chẽ: liên lạc thông suốt 24/24 giờ; xử lý nhanh gọn các yêu cầu, khiếu nại, phản ảnh của người dân, không dẫn dắt rườm rà...

Các tiêu chí này phải được bảo đảm bằng các biện pháp chế tài nghiêm khắc: người trực đường dây mà xao lãng phận sự, đặc biệt người chịu trách nhiệm chung về chất lượng của đường dây nóng mà để đường dây “nguội lạnh” phải bị kỷ luật và chịu trách nhiệm vật chất nếu để xảy ra thiệt hại.

Theo Tuoitre.vn
Read more…

VỀ BỨC ẢNH ÔNG NGUYỄN BÁ THANH NẰM VIỆN

7:36 AM |
Rất cảm ơn các bạn ở trang "Hội Những Người Ghét Bọn Phản Động" đã vạch mặt lũ đểu cáng ba que cùng lũ zân chủ đong sèng.

Hóa ra, từ Bô Shit của Huệ Chi, Hội Nhà Báo Độc Lập của Phạm Chí Dũng, cho đến bọn tiểu yêu, lâu la cũng đều là lũ cuội cả.

Không cuội sao được khi toàn đưa tin với những hình ảnh kiểu râu ộng nọ cắm cằm bà kia?

Đây là entry của các bạn trẻ yêu nước chân chính:

ÔNG NGUYỄN BÁ THANH

CỦA CỘNG ĐỒNG CHỐNG CỘNG THỰC SỰ LÀ AI?

Thời gian vừa qua, rộ lên tin đồn đồng chí Nguyễn Bá Thanh "bị đầu độc" và đã "qua đời. Cộng với đó là một loạt các câu chuyện thâm cung bí sử hàng nước chè tòi ra từ các trang chống phá Hải ngoại. Để sinh động thêm cho những câu chuyện viễn tưởng của mình, các trang chống phá đã lấy hình ảnh một bệnh nhân đang được chữa trị và khẳng định đây là ông Nguyễn Bá Thanh.

Rất đơn giản, trong hình, bạn cũng có thể nhận ra sự khác biệt đâu là đồng chí Nguyễn Bá Thanh của chúng ta và "ông Nguyễn Bá Thanh" của các bạn chống cộng.

Theo một vài thông tin (ĐVTCĐT) thì người bên phải nhiều khả năng là " ký giả Thanh Toàn " cựu phóng viên SBTN hải ngoại hay còn được biết với cái tên Ca Sĩ Trần Thiện Anh Chương hoạt động ở Mỹ vừa qua đời vào ngày 29 tháng 5 năm 2014 tại Houston, Texas. Ông này cũng là một thành viên có tiền sử ba môn phối hợp vào tháng 4 năm 1975 ( quăng súng, tụt quần, đu càng).

SBTN ( sống bằng tiếng nổ) cũng là "đài truyền hình" thần thánh của xứ tự do với bản tin "đảo chánh tại Hà Nội" trong đợt lũ lịch sử tại HN mấy năm trước.

Nếu đúng như vậy, các bạn chống cộng không ngần ngại mang di ảnh của 'đồng đội" lên để tung tin bịa đặt, hòng mục đích cuối cùng là để xuyên tạc, bôi nhọ chính phủ Việt Nam.

Về việc một số người chưa gì đã tin tưởng tuyệt đối vào những thông tin bịa đặt như vậy, mặc dù không phải quan điểm của page, chúng tôi xin đăng lại một phát biểu của một mem để thấy thái độ của cộng đồng: " Bọn chống cộng đưa tin ngu như chó. Vậy mà vẫn có đứa tin vào, thì đứa đó ngu hơn chó rồi còn gì?"

Read more…

LẠI THÊM MỘT CÚ NỐC AO NỮA CỦA GẤU NGA DÀNH CHO MỸ

6:24 AM |

Dùng vàng để triệt tiêu sự thống trị của dollars

Lê Ngọc Thống
...
Đã đến thời dollars phải chia sẻ quyền lực?

Trong thế giới tài chính, vàng được coi như antidoollars (kháng dollars), nghĩa là trong giao dịch, dự trữ ngân khố thì chỉ có vàng mới có giá trị thách thức được sức mạnh của dollars. Vàng, có thể và duy nhất hiện nay, thay thế được dollars để trở thành phương tiện thanh toán cuối cùng và tích lũy tài sản.

Nhưng là quốc gia bá chủ thế giới, Mỹ buộc thế giới phải coi tờ dollars của Mỹ là thứ giao dịch mạnh nhất, có giá trị nhất và thực tế, với một nền kinh tế hàng đầu thế giới, dollars của Mỹ có sức mạnh như hiện nay là tất yếu. Và đương nhiên, để bảo vệ quyền thống trị của dollars trên thị trường tiền tệ toàn cầu, Mỹ có những chính sách, luật, để “đàn áp” buộc giá trị vàng phụ thuộc vào dollars tức phụ thuộc vào sự điều chỉnh của Mỹ.

Năm 1971, Tổng thống Mỹ R.Nixon ra lệnh đóng “cửa sổ vàng”, chấm dứt việc trao đổi tự do vàng với dollars.

Năm 2014 khủng hoảng Ukraine, Mỹ-phương Tây, bằng các nổ lực và nguồn lực của mình đã can thiệp vào giá dầu và vàng để làm tăng sức mạnh của dollars nhằm đánh sập nền kinh tế Nga. Tổng thống Nga V. Putin lập tức mở “cửa sổ vàng” bắt đầu trao đổi tự do giữa vàng và dollars mà không cần “xin phép Mỹ”.

Thứ nhất, về xuất khẩu. Nga không coi dollars là phương tiện thanh toán cuối cùng, không coi dollars là nguồn tích lũy chính mà thay vào đó là VÀNG. Tiền dollars thu được từ bán dầu, khí đốt…cho phương Tây đều được Nga quy ra vàng và biến thành vàng ngay và luôn.

Điều thú vị, trớ trêu ở đây là Mỹ-phương Tây mua hàng của Nga phải thanh toán bằng dollars, mà giá trị thực của dollars đã được Mỹ-phương Tây đẩy lên cao để giảm giá dầu và vàng (giả tạo), trong khi đó, Nga thì sử dụng tiền dollars thu được này để mua ngay vàng với cái giá thấp giả tạo đó. Rốt cuộc, “Nga đã đưa Mỹ-phương Tây vào vị trí của một con rắn, mạnh mẽ và siêng năng nuốt đuôi của chính mình”. Đây là lời bình mà tôi cho rằng hay nhất trong năm bởi Golbal Research thay vì như “tự ghè đá vào chân mình”, “gậy ông lại đập lưng ông”…

Chúng ta còn nhớ, vào những năm 70-80, Nhật đã mua rất nhiều tài sản ở Mỹ, kể cả trái phiếu chính phủ, vì Nhật có thặng dư mậu dịch lớn với Mỹ giống như Trung Quốc bây giờ. Thế rồi năm 1985 Mỹ đã buộc Nhật phải ký vào Plaza Accord để đồng yen lên giá hơn 50% so với đồng USD trong hai năm sau đó. Điều này tương đương với tất cả các khoản đầu tư trước đây của Nhật vào Mỹ bị mất giá hơn một nửa, cũng có nghĩa là Mỹ đã trắng trợn “quịt” 50% số nợ với Nhật.

Mỹ tuy chưa làm được điều này với Trung Quốc nhưng hơn 3000 tỷ dollars trái phiếu sẽ bị FED thao tác “bốc hơi” lúc nào là chuyện dễ như trở bàn tay. Trung Quốc thừa biết nhưng vì mục tiêu tăng trưởng nên buộc phải chấp nhận “lót tay”, chấp nhận có thể bị “quỵt nợ” ,“cố đấm ăn xôi”mà thôi.

Rõ ràng là Trung Quốc và Nhật Bản đã đem của cải, tài nguyên của mình đổi lấy những tờ dollars của Mỹ, do Mỹ in và phát hành, nhưng Nga thì không, Nga đem những thứ đó để đổi lấy vàng. Đây là những con số nói lên tất cả: Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cho biết dự trữ vàng của Liên bang Nga trong tháng 11 năm nay đã tăng thêm 19 tấn, đạt con số 1.187,5 tấn. Đây là chỉ số dự trữ vàng cao nhất của nước này trong 20 năm qua. Nga đã nhập khẩu vàng suốt 8 tháng nay để tận dụng mức giá thấp. Trong quý 3 năm nay, khi giá vàng đã giảm 1,9%, tất cả ngân hàng trên thế giới mua vào 93 tấn thì Nga chiếm một con số kinh ngạc là 55 tấn.

Thứ hai là về thanh toán nhập khẩu. Nga tuyên bố thanh toán bằng vàng được quy đổi theo dollars. Tuyên bố này gửi đến các nước BRICS và Trung Quốc hưởng ứng nhiệt liệt. Ngoài ra, Trung Quốc còn tuyên bố “Dừng việc tăng dự trữ quốc gia bằng đồng dollars”. Điều này có nghĩa là cũng như Nga, vẫn chấp nhận lấy dollars làm phương tiện trung gian thanh toán hàng hóa, nhưng sau đó sẽ loại bỏ nó bằng một thứ khác trong cơ cấu dự trữ quốc gia.

Có thể nói quan hệ Nga-Trung được coi là thành công nhất trong vụ hạn chế, tiến tới triệt tiêu sự bá chủ của đồng dollars mà Trung Quốc ấp ủ từ lâu. Hàng hóa của Trung Quốc và năng lượng của Nga được thanh toán cuối cùng bằng vàng. Trong cuộc chơi này, trong rổ tiền tiền tệ của nhóm nước BRICS sẽ không có sự xuất hiện của đồng dollars.

Châu Âu phải mua năng lượng của Nga bằng vàng và mua hàng hóa của Trung Quốc cũng phải bằng vàng và chắc chắn lúc đó vàng từ nguồn dự trữ của phương Tây sẽ chảy vào kho của các quốc gia BRICS, những quốc gia mà họ không dùng đồng dollars làm phương tiện thanh toán cuối cùng.

Vàng không dễ sản xuất như in ấn dollars, với sự giảm mạnh lượng dự trữ vàng hiện nay, phương Tây chỉ có thể chờ ngày dollars rời khỏi vũ đài lịch sử khi nó không còn là một phương tiện thanh toán, dự trữ cuối cùng cho các quốc gia trên thế giới. Những gì Nga và Trung Quốc đang làm cùng các nước BRICS đã thực sự thay đổi dần vị thế, vai trò của đồng dollars trong hệ thống tiền tệ toàn cầu.

Khi giá dầu giảm đến mức thấp nhất, Liên Xô lúc đó, đã bán vàng trong kho của mình. Kết quả là Liên Xô bị tan rã. Mỹ-phương Tây lên ngôi, đồng dollars đã trở thành chúa tể thế giới.

Còn bây giờ, khi giá dầu giảm đến mức thấp nhất thì Nga lại mua vàng nhập vào kho của mình. Kết quả sẽ ra sao? Đó sẽ là sự sụp đổ sự bá quyền của dollars-dầu lửa, mô hình thống trị thế giới của Mỹ-phương Tây?

Mỹ và phương Tây sẽ làm gì? Theo truyền thống, để loại bỏ mối đe dọa quyền bá chủ và lợi ích quốc gia, Mỹ-phương Tây sẽ tiến hành lật đổ chế độ Nga-Putin (cách mạng màu) hoặc tấn công bằng quân sự vào Nga, nhưng cả hai cách này xem ra đều không thể.

Mỹ-phương Tây đã nhận thức được mức độ nghiêm trọng và tuyệt vọng trong “cái bẫy vàng” tiền tệ của Putin sau khi đã quá hiểu quy tắc vàng: “Ai có nhiều vàng ra những quy định” và chưa biết làm gì để thoát ra.

Read more…

BẢY ĐIỀU CƠ BẢN VỀ KINH TẾ ĐÁ PHIẾN SÉT CHỨA DẦU

7:14 PM |
Huy Văn Phúc
Bảy điều sơ lược về kinh tế đá phiến sét chứa dầu và dầu: đá phiến sét chứa dầu là gì, tại sao giá dầu tăng giảm, tại sao kinh tế tây lông nhạy cảm với giá dầu, sự thật là Mỹ khai thác những cái gì?


Mới nghe đã thấy Mỹ phát minh ra khoan ngang, Mỹ phát minh ra khai thác đá phiến sét.

Đá phiến sét đã được khai thác từ thượng cổ, và Liên Xô đã hoàn thiện khoan tuốc bin từ những năm 30 của thế kỷ 20. Toàn bộ các giàn khoan của Mỹ lệ thuộc vào Nga, nhưng xây dựng nên mớ lý thuyết nhồi sọ lợn.

Ngày hôm nay, tỷ giá đồng rub mất làm toàn bộ chứng khoán Tây Lông chết, Nga kéo rub lên là kéo chứng khoán cho cả Tây Lông. Nếu Nga và Saudi giữ mức giá dầu dưới giá thành khai thác dầu đá phiến (chiếm khoảng 1/3 số dầu Mỹ),thì sẽ phang chết toàn bộ khí đá phiến sét của Obama.

Về khí đá phiến sét em đã nói nhiều rồi. 

Một là, về nguyên tắc, đang có chiến dịch nhồi sọ rằng Mỹ có siêu công nghệ khí đá phiến sét, khai dầu rẻ như bèo, nên đập chết ăn thịt Nga. Đây là trò chó má nhất của những bộ óc đậu phụ của nhà nước thực hiện trên các VTV, VOV. Đá phiến sét chứa dầu cũng là mỏ dầu, nhưng là loại dầu cằn. Dầu này không tự chảy vào giếng khoan để bơm lên, mà nó thấm vào đá rắn. Chúng ta có thể hiểu, đá phiến sét chứa dầu khi cầm lên trong điều kiện mỏ (150-300 độ C), thì nó không chảy tí dầu-khí nào ra. Còn mỏ dầu thường thì dầu thấm trong đá tự chảy vào giếng thậm chí là tự phun lên trên miệng giếng.

Mỏ dầu thường là những cái bẫy hydrocarbon, chúng có dạng cái bát úp, được phủ bên trên bởi những lớp đất đá kín không thấm như sét. Hydrocarbon nhẹ hơn nước ngầm, nổi lên trên, sẽ tích tụ trong những bẫy bát úp đó. Hydrocarbon hình thành bằng nhiều nguồn: xác sinh vật cổ bị phân hủy; methan đóng băng trên đáy biển bị chôn vùi - cũng từ sinh vật; nước ngầm phản ứng với các khoáng chất ở nhiệt độ cao trong lòng đất... Mỏ dầu vì thế xuất hiện nhiều ở những vùng đất mà các dãy núi nổi lên chèn vỏ lục địa cong vênh như ven Kavkaz, hay các mảng kiến tạo đâm nhau cũng cong vênh, như châu Phi đâm vào châu Á ở Trung Đông, hay thềm lục địa nơi đáy biển cuộn vào bờ.... 

Bởi vì, không phải nơi nào cũng là cái đỉnh bát úp, nên các bẫy dầu này không có nhiều, mà chủ yếu trữ lượng dầu nằm trong đá phiến sét được mô tả dưới đây.

Còn các mỏ hắc ín và đá phiến sét chứa dầu thì không có dạng bẫy đó, mà chỉ là đá xốp, dầu thấm vào trong. Có nhiều loại sét rất xốp như sét tảo cát, hình thành từ vỏ silic của các vi tảo có dạng những cái lồng nhỏ li ti, xốp 70-90 %, trước đây Nobel dùng để thấm chất nổ lỏng thành chất nổ dẻo. Vì thế, ven Baltik, Ladoga, Hắc Hải, ở vĩ độ của sét tảo cát,.... là bạt ngàn các vỉa đá phiến sét chứa dầu.

Hiện nay dầu lỏng còn rất nhiều nên con người chưa phải ăn đến cái cằn đó. Việc khai thác chúng ngày nay là phi lý.

Giá thành khai thác đá phiến sét rẻ nhất do Nga-Trung đạt được là dầu lỏng $30 / thùng. Trong khi đó, giá thành dầu của Nga và Saudi dưới $20. Nga-Trung dùng dầu cặn mà họ đã trữ được rất lớn trộn với chất xúc tác, nung nóng, bơm xuống các vỉa đá phiến sét chứa dầu được khoan các giếng với mật độ rất dầy. Dầu áp lực cao sẽ phá hủy cấu tạo vỉa đá và thấm qua đá xốp. Khi đó, cả mỏ dầu như bị nung nóng lên trong nồi áp suất, dầu rắn bị racking và hòa tan vào dầu cặn lỏng, chảy vào các giếng rồi được hút lên.

Cách khai thác của Mỹ gần giống nguyên lý trên nhưng thực chất lạc hậu không áp dụng được. Mỹ bơm nước nóng cùng chất xúc tác là muối sắt xuống mỏ, cũng nung nóng cả mỏ lên 200-300 độ C (bình thường do địa nhiệt, mỏ cũng đã nóng 150-300 độ C nên hầu hết các mỏ chỉ cần bơm nước nóng xuống). Cách này chỉ có thể lấy được dầu-khí sau khi nó cracking thành các phân tử nhẹ hơn ở dạng lỏng và khí ở điều kiện mỏ, chảy ra khỏi đá, thấm vào các giếng.

Ở cả hai cách, chỉ khác nhau là Nga dùng dầu cặn, Mỹ dùng nước. Điểm giống nhau là khoan 2 lưới giếng mật độ cao, một bên áp cao nén xuống và một bên áp thấp hút nước-dầu-khí lên. Cách của Mỹ không hòa tan được nhiều, tỷ lệ thu được ít, do chỉ mót được các phân tử đã cracking, vì thế giá thành rất cao.

Điều thứ 2 là, Mỹ hầu như không khai thác khí đá phiến sét như họ nói, mà họ gọi dầu thường là khí đá phiến sét để nhồi sọ truyền thông qua các đại lý cung cấp dịch vụ thực dân thông tin.

Bằng chứng là, lượng phân phối - tiêu thụ sản phẩm khí của Mỹ rất thấp, chỉ bằng lượng khí methan Mỹ hút trong các mỏ than. Trong khi đó, khai thác bằng kỹ thuật craking như Mỹ , thì hơn một nửa sản phẩm là khí có nhiều thành phần chưa no, bán rất được giá. 
(năm Mỹ xơi 6,920,812 khoảng 1 tỷ tấn nhưng chỉ có 910,839 khí các loại, lượng khí này cũng chỉ bằng lượng khí methane chính Mỹ khai thác trong các mỏ than)

Như vậy, Mỹ thậm chí còn chưa có kỹ thuật thu hồi đáng kể lượng khí đồng hành dầu, đừng nói là các thứ khí đắt như khí đá phiến sét. Khí đồng hành dầu là do dầu lỏng ở trong mỏ dầu thường bị nén ở áp suất cao (300-400 atm), nên hòa tan rất nhiều khí. Có nhiều mỏ khí còn nhiều hơn cả dầu lỏng (ở điều kiện thường). Khai thác khí đi sau, như là mỏ Bạch Hổ, ban đầu người ta đốt bỏ khí đồng hành ở giàn xử lý sơ chế, sau khi có tiền khá khá và thời gian mới thi công đường ống vận chuyển khí hóa lỏng vào bờ, hoặc cảng chuyên dụng cho các tầu chở khí hóa lỏng ngoài biển.

Việc sơ chế, chứa, vận chuyển.... khí hóa lỏng rất khó khăn và sẽ có giá thành rất cao nếu như dốt. Liên Xô đã đứng đỉnh thế giới, nay Nga vượt xa Liên Xô. Chúng ta chỉ cần xem Luồng Bắc Nord Stream 1500 km ống không cần bơm tăng bo, nén 250 atm bằng tuốc bin. Chỉ riêng những tuốc bin nén khí vào ống của Nga và Liên Xô cũ cũng đã là quái vật kinh hoàng với văn minh Tây Lông. Ở Bạch Hổ, thì đường ống chỉ mấy trăm km, nhưng với sản lượng nhỏ, để làm ống đó có lãi là không đơn giản. Do đó, khí hóa lỏng trên thế giới rất đắt, những giá ở mỏ gần như bằng không. Việc vận chuyển khí hóa lỏng bản thân nó đã là một ngành kinh tế lớn như khoan dầu.

Như thế, chỉ khi Mỹ có lượng khí đáng kể trong phân phối sản phẩm, thì mới là có khí. Nhưng khi họ có cách vận chuyển khí, thì họ sẽ thu hồi số khí đồng hành rất lớn hiện nay họ đang đốt bỏ ngoài biển. Sau đó, nếu như giá thành có cho phép, thì mới dám đầu tư sang khí đá phiến sét.

Điều thứ 3. KHai thác đá phiến sét chứa dầu không hề là điều gì mới.
Trên Đây là sản lượng thế giới 197x, chủ yếu do Xô - Trung khai thác. Chỉ có ngớ ngẩn mới tin nổi Mỹ đẻ ra công nghiệp khai thác khí đá phiến sét.

Chúng ta đã bàn nhiều về mỏ Ukhta, mỏ dầu đầu tiên của châu Âu. Từ đây, những người Nga di cư mới lập ra cái mỏ thứ hai cho châu Âu ở Thụy Sỹ, thuộc Tây Lông, nhưng cái mỏ thụy sỹ đó chỉ là cuốc hắc ín rắn. Mỏ Ukhta ở gần Maxcơva thực chất là một mỏ đá phiến sét gần như lộ thiên, nhiều nơi dầu lỏng chảy ra, được khai thác cả đá và dầu lỏng. Chúng ta đã bàn đến việc Nữ Hoàng Nga con của Piotr trịnh trọng ghi vào sử xanh rằng, năm 1735 bà cấp phép khai dầu Ukhta cho một ông, để chưng dầu hỏa, thắp sáng các thánh đường Chính Thống. Tuy nhiên, đây chỉ là việc tôn giáo trịnh trọng. Cha bà, Piotr Đại Đế đã khai, đã chứa dầu ở đây, để chưng ra rất nhiều thứ dùng cho công nghiệp, từ năm 1696.

WW1, Nikolay Pogrebov bắt đầu tổ chức khai thác thử nghiệm đá phiến chứa dầu từ Estonia chở đến Petrograd (Saint Petersburg ), sau đó nhà máy năng lượng Tallinn là nhà máy đầu tiên trên thế giới đốt đá phiến sét chứa dầu, năm 1924. Ở Nga và Liên Xô, các nhà máy năng lượng là những nhà máy hỗn hợp, vừa cấp điện , vừa cấp nhiệt sưởi.

Từ thời thượng cổ người ta đã làm. Nga là nước đẻ ra nền công nghiệp dầu mỏ cho thế giới, Nga đẻ ra khoan dầu thay cho giếng đào cổ truyền, chưng dầu công nghiệp , đường ống dẫn dầu, tầu chở dầu.... Nga Hoàng cũng đã tổ chức khai thác thử nghiệm đá phiến sét chứa dầu lấy dầu. Nga Hoàng thực hiện bằng xúc đá ninh trong nồi áp suất với hơi nước nóng để múc dầu lỏng chảy ra. Liên Xô cũng đã thực hiện thử nghiệm các loại lò đốt trực tiếp đá phiến sét chứa dầu để phát điện. Các nước khác như Trung Quốc cũng như thế, cổ kim đều có. 

Tuy nhiên, đến nay, thì khai thác đá phién sét chứa dầu có giá thành cao nên người ta vứt đấy. 

Điều thứ 4. Mỹ không khai thác đá phiến sét nên không có chuyện nhảm nhí là siêu kỹ thuật Mỹ.
Thực chất, các cách khai thác khí đá phiến sét bằng cách nung cả vỉa mỏ lên, dù là ở Nga, Mỹ, Arghentina, Trung Quốc.... đều phải sử dụng rất nhiều giếng khoan. Họ phải khoan các giếng khoan đặc sít vào nhau, thành hai lưới giếng, một thông với giếng áp cao bơm xuống, 1 thông với giếng áp thấp bơm lên.

Thế nhưng, Nga độc quyền về khoan khó.

Nga là nước đẻ ra công nghiệp khoan dầu và ngành dầu khí hiện đại cho thế giới trong thế kỷ 19. Và nối tiếp Liên Xô cũng đẻ ra kỹ thuật khoan hiện đại.

Cuối thế kỷ 19, người ta khoan giếng bằng khoan cần quay ROTARY DRILL. Tất cả các giếng đều theo chiều thẳng đứng. Các giếng phải không xa nhau quá, giữ khoảng cách nhất định, mới hút được hết dầu. CHính vì thế, mỏ dầu thế kỷ 19 là cảnh một rừng các giàn khoan. Tây Lông còn các rừng giàn khoan như thế cho đến sau 1991.

Nhưng từ năm 1930, Liên Xô đã phát triển kỹ thuật khoan ngày nay. 

Năm 1930, Liên Xô đã áp dụng đại trà thước đo độ nghiêng của giếng. Nhờ vậy, kiểm soát được độ cong của giếng, khoan cần quay được sâu hơn. Năm 1933-1934, Liên Xô đã dùng thước kiểm soát trên để khoan nghiêng, từ ngoại thành Baku khoan vào gầm thành phố. Cũng những năm đó Liên Xô bán các kỹ thuật này cho Na Uy để từ bờ khoan ra biển. Đây là kỹ thuật khoan định hướng Directional Drilling Technology.

Năm 1941, Liên Xô đã dùng khoan tuốc bin để giữ kỷ lục chiều sâu lỗ khoan cho đến 1991.

Khoan tuốc bin là không truyền động cho mũi khoan bằng cần khoan như cũ, mà bằng chất lỏng áp lực cao, chất lỏng này đẩy tuốc bin làm mũi khoan chạy. Mũi khoan bò trong giếng khoan và được điều khiển hướng bởi các kích thủy lực. Ban đầu, cách khoan này được dùng để khoan các đường hầm kỹ thuật lưới tầu điện ngầm Maxcơva, né qua các công trình nổi.

Khoan tuốc bin là chìa khóa để thực hiện các lỗ khoan gập khúc và rẽ nhánh. (Turbodrills , Турбобур ). Năm 1934, Liên Xô thành lập viện Экспериментальн ая контора турбинного бурения (ЭКТБ ), với các nhà khoa học hàng đầu PP Shumilov RAIoannesyan, MT Guzman và EI Tagiyev .

Bẵng đi bởi chiến tranh,mãi đến năm 1949, Liên Xô đã hoàn chỉnh như ngày nay: khoan nghiêng, khoan rẽ nhánh, khoan cong gấp khúc. Từ đó cảnh rừng giàn khoan được thay thế. Thay vào đó, từ giàn trung tâm, người ta sẽ khoan ngoằn nghèo ngóc ngách vào vỉa dầu với tầm vươn ngang và sâu đến 6 km. Các mũi khoan khoa học thực nghiệm đến 12 km.

MA Kapelyushnikov , SM Volokh và NA Korneev đã nỗ lực thiết kế các khoan tuốc bin đầu tiên năm 1922. Cho đến năm 1933, Liên Xô đã thay dần khoan cần sang khoan tuốc bin. Ở Liên Xô hầu hết là khoan tuốc bin. Còn bên Tây Lông đến năm 1991 hãng Neyrfor mới lần đầu tiên đăng ký một mẫu thiết bị khoan tuốc bin khả thi, nhưng đây là cách mà người Nga xuất khẩu thiết bị sang Mỹ chứ không phải phát minh phát kiến của Mỹ.

Một đỉnh cao nữa của Liên Xô là giàn khoan bán chìm Chirag 1985. Các giàn khoan bán chìm có phần giàn khoan thật sự nằm trên đáy biển, tự động hóa hoàn toàn. Cái phần nổi trên mặt biển chỉ là cỗ máy căn cứ, cung cấp điện-điều khiển-chất lỏng áp lực. Giàn khoan bán chìm cho phép khai thác dầu ngoài biển với độ sâu đáy biển lên đến hàng nghìn mét, mà các giàn khoan chân cắm không thể với đến.

Khoan ngang cũng không phải cái gì mới. Từ lâu, Liên Xô đã áp dụng khoan ngang lớn nhỏ, và bán rộng rãi các máy móc này. Lớn để khoan hầm khoan dầu, nhỏ thì đơn giản như đặt cáp qua đường.

Khoan tuốc bin không chỉ cho phép khoan cong, khoan gập khúc.... mà còn cho phép khoan với tốc độ cao hàng chục đến hàng trăm lần trước. Điểm mấu chốt về tốc độ là phần chuyển động của nó gọn gàng không quá nặng nề, nên tốc độ quay cao, thời gian nối cần không quá dài, cũng như dễ dàng triển khai các thiết bị khác trong giếng, như thành giếng, các máy móc điều khiển.

Ngày nay, Hầu hết các giàn khoan trên thế giới có thành phần Nga. Đặc biệt, Nga chỉ không cung cấp loại khoan cần cổ lỗ cho các mũi khoan nông. Còn tất cả các giếng có khoan cong, khoan gập khúc, khoan rẽ nhánh, đều phải dùng giếng và khoan của Nga. Còn loại giàn khoan bán chìm thì toàn bộ cái lõi giàn khoan là của Nga. Các nước khác mua những cái đó, đem về lắp, và thậm chí là Nga mua lại giàn khoan hoàn chỉnh, để lấy nhân công rẻ tiền và vốn đầu tư. Việt Nam cũng bán giàn khoan cho Nga và nô tì An Nam trực tiếp sang Siberi vận hành các giàn khoan đó.

Từ 199x, Nga đã làm cho Tây Lông sống lại rất nhiều mỏ và khai thác nhiều mỏ mới . Chúng ta có thể hiểu, Nga có nhiều cách để mót các mỏ dầu rất cạn, ví như mỏ Bạch Hổ. Họ khoan đàn đàn lũ lũ lỗ khoan, xoay vòng bơm nước xuống, nước đẩy dầu lên rất chậm thấm qua đá, ở góc khác của mỏ thì xoay vòng bơm dầu lên. Tất cả những cái đó Mỹ gọi là khí đá phiến sét.

Thật ra, ở Mỹ, cũng đã triển khai nhiều phát triển, chỉ có điều là không đi đến thành công. Texon, Texas đã thực hiện khoan ngang từ năm 1929.

Điều thứ 5. Vậy thì, mấy năm qua, Mỹ không khai dầu khí đá phiến, thì Mỹ khai cái gì mà tăng sản 
À, do giá dầu tăng lên trên $70. Như vậy, 1/3 sản lượng dầu của Mỹ nay là lên sau 2010, có giá thành trên $70.

Và như thế hậu quả của việc giá dầu xuống là: nền công nghiệp khai dầu Mỹ chết sặc tiết.

Đây là đồ thị sản lượng dầu Mỹ theo từng tháng, từ sâu trong lịch sử

Đồ thị và số liệu lịch sử giá dầu 

Điều thứ 6. Như vậy, Mỹ có giá thành cao, thì cái gì làm giá dầu giảm?
Thật ra, chỉ có ở Việt Nam người ta mới có đông đảo lợn để nói đến những chuyệnh ngu hơn lợn như Mỹ có siêu kỹ thuật đá phiến sét. Chỉ có loài lợn đã thối sạch sành sanh não mới tin nổi điều đó.

Giá dầu giảm do tòan bộ Tây Lông đã rơi vào khủng hoảng kép "giảm phát". Nhật bắt đầu từ 2013 với tiêu thụ giảm gần 10%. Mỹ nối tiếp, và nay đến châu Âu.

Chính vì các bạn hàng chủ yếu chết sặc nên Nga mới hơi suy thoái 0,9% trong năm 2015. Cùng là BRICS, nhưng Tầu - Ấn và Nga phản ứng khác nhau trước việc Tây Lông khô héo. 

Tầu - Ấn là những nước bán hàng bình dân. Họ vẫn đang nghèo, mức tiêu thụ bình quân trong nước đang thấp. Như thế họ vẫn đang phát triển mạnh mẽ bằng tăng bình quân tiêu thụ, chỉ thay đổi từ xuất khẩu sang Tây Lông quay về tự sướng nội địa.

Ngược với Tầu - Ấn, Nga là nước bán hàng mức sống cao. Họ bán dầu chạy xe hơi , bình dân đi xe máy ăn ít dầu, hay xe bus chạy điện bằng than hay hạt nhân rẻ tiền... Nga bán xương sống của máy bay, khi khủng hoảng thì người ta dừng giao hàng máy bay vốn phục vụ du lịch cao cấp. Nga bán nhiên liệu hạt nhân cho điện hạt nhân. Nga bán xương tủy của giàn khoan và các dự án đường sắt, khi khủng hoảng thì người ta ngừng đầu tư. Nga cũng bán tầu vũ trụ siêu xa xỉ....

Như thế, Nga sẽ suy thoái khi giao mùa, Tây Lông chết mà Tầu - Ấn chưa thay thế được Tây Lông.

Điều thứ 7, tại sao Tây Lông lại tiêu thụ nhiều như thế?
Đó là do bong bóng. Những thành phố của Mỹ là những cái làng cổ truyền siêu khổng lồ đường kính lên đến 200km. Vì bong bóng mà lạm phát, nên ở Mỹ ai ai cũng phải mua đất làm nhà riêng. Ở NY, ngủ lại khu trung tâm chỉ có vô gia cư.

Chính vì thế, Mỹ không sưởi bằng nhiệt năng thừa của các nhà máy điện, cũng rất khó sưởi than rẻ tiền, mà sưởi bằng dầu sưởi đắt gấp 10 lần than. 

Mỗi gia đình Mỹ bình thường phải có tối thiểu 2 xe hơi, 1 đi làm 1 đi chợ, với khoảng cách đi làm hàng trăm km.

Chính vì thế, tuy là đi xe ô tô có mui, nhưng Mỹ có tỷ số chết do tai nạn giao thông cao hơn nhiều Việt Nam.

Ở các nước khác người ta sưởi bằng nước nóng, đi bằng xe công cộng chạy điện.... đều lấy từ than hay hạt nhân rẻ tiền.

Tây Âu cũng bong bóng như Mỹ, còn Nhật bản quá chật nên bớt nạn nhà riêng. Chính vì thế, khi Nhật bản khủng hoảng giảm phát từ 2013 nhưng giá dầu chỉ giảm khi Mỹ giảm.

Như vậy, Mỹ tiêu thụ hàng năm gần 1 tỷ tấn dầu khí, trong đó 1 nửa là nhập khẩu. Mỹ nhậy cảm với giá dầu. Kinh tế Mỹ đang gượng lên là nhờ giá dầu thấp. Giá dầu lên Mỹ lại càng mất cạnh tranh.

Và cũng rút ra một điều là, Mỹ vẫn chưa giảm sản lượng nhập khẩu dầu từ Nga và Ả Rập. Mỹ vẫn ăn dầu rất khủng, Mỹ chưa khai thác thấm tháp bao nhiêu so với tiêu thụ của chính Mỹ.

Nguồn: Ở đây
Read more…

LÝ GIẢI VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG THẤP CỦA NGƯỜI VIỆT

5:55 PM |

Tại sao 18 người Việt Nam chỉ làm bằng 1 người Singapore?

Lãnh đạo Tổng cục Thống kê nhận định, có 4 nguyên nhân khiến năng suất lao động Việt Nam thấp hơn 18 lần so với Singapore, 6 lần của Malaysia, 3 của Thái Lan và Trung Quốc. Ngày 27/12, Tổng cục Thống kê - Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành báo cáo về tình hình kinh tế xã hội năm 2014. Trong đó có nội dung về năng suất lao động xã hội.

                      Lãnh đạo Tổng cục Thống kê thông tin về tình hình kinh tế xã hội năm 2014.

Về nội dung này, cơ quan thống kê cho biết, theo giá hiện hành của toàn nền kinh tế ước tính đạt 74,3 triệu đồng mỗi lao động (tương đương 3.515 USD). Trong đó năng suất khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 28,9 triệu đồng (bằng 38,9% mức chung), công nghiệp và xây dựng là 133,4 triệu đồng, khu vực dịch vụ đạt 100,7 triệu đồng.

Tính theo giá so sánh năm 2010, năng suất lao động toàn nền kinh tế năm 2014 ước tính tăng 4,3% so với năm 2013. Trong đó năng suất lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,4%, công nghiệp và xây dựng tăng 4,3%, dịch vụ tăng 4,4%.

Cơ quan thống kê nhận định, năng suất lao động của Việt Nam liên tục tăng trong thời gian qua, bình quân đạt tốc độ 3,7% mỗi năm trong giai đoạn 2005 - 2014. Tuy nhiên, hiện nay năng suất lao động Việt Nam chỉ bằng 1/18 của Singapore, 1/6 của Malaysia, 1/3 của Thái Lan và Trung Quốc.

Tại cuộc họp báo diễn ra chiều 27/12, lãnh đạo Tổng cục Thống kê cho biết có 4 nguyên nhân cơ bản khiến năng suất lao động của nước ta thấp so với các nước trong khu vực, đó là:

Thứ nhất, cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động có chuyển dịch tích cực nhưng tỷ trọng lao động khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản vẫn ở mức cao.

Thứ hai, chất lượng nguồn lao động thấp, cơ cấu đào tạo thiếu hợp lý; máy móc, thiết bị và quy trình công nghệ còn lạc hậu.

Thứ ba, tỷ lệ doanh nghiệp công nghệ thấp, trung bình trong toàn ngành chế biến, chế tạo chiếm tới 88% tại thời điểm năm 2012. 

Lý do cuối cùng, theo cơ quan thống kê, trình độ tổ chức quản lý còn yếu cùng với hiệu quả sử dụng các nguồn lực thấp.

Số liệu của Tổng cụ Thống kê cho biết, dân số trung bình năm 2014 của cả nước ước tính 90,73 triệu người, tăng 1,08% so với năm 2013. Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2014 ước tính 53,0 triệu người, tăng 0,8 triệu người so với năm 2013.

Số lao động này đang làm việc cho khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 46,6%; công nghiệp và xây dựng chiếm 21,4%; khu vực dịch vụ chiếm 32,0%.

Số người có việc làm trong quý IV/2014 là 53,471 triệu người, tăng 678.000 người so với quý IV/2014.

Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi lao động năm 2014 là 2,45%, thấp hơn mức 2,74% của năm 2012 và 2,75% của năm 2013. Trong đó khu vực thành thị là 1,18% và khu vực nông thôn là 3,01%.

Số liệu tại báo cáo cũng cho thấy, tỷ lệ thiếu việc làm có xu hướng tăng vào cuối năm với lần lượt từ quý I đến quý IV là 2,78% - 2,25% - 2,3% và 2,46% và tăng chủ yếu ở khu vực nông thôn.

Tuy nhiên, Tổng cục Thống kê nhận định, nền kinh tế Việt Nam đang cho thấy dấu hiệu tích cực. Theo đó, tổng sản phẩn trong nước (GDP) năm 2014 ước tính tăng 5,98% so với năm 2013, trong đó quý I tăng 5,06%; quý II tăng 5,34%; quý III tăng 6,07%; quý IV tăng 6,96%. Mức tăng trưởng năm này cao hơn mức tăng 5,25% của năm 2012 và mức tăng 5,98% của năm 2013.

Theo Minh Quyết / VTC New
Read more…